Tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế

Tranh chấp thừa kế

Thừa kế là một chế định được quy định trong Bộ luật dân sự. Theo đó, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trong quá trình phân chia di sản thừa kế, thường phát sinh các tranh chấp về di sản thừa kế như xác định hàng thừa kế, phần di sản thừa kế, nội dung và hình thức của di chúc…

Hãng luật Giải Phóng là đơn vị tiên phong chuyên nghiệp trong việc tư vấn giải quyết các tranh chấp về thừa kế và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các vụ án tranh chấp di sản thừa kế.

Dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp Thừa kế  bao gồm:

– Xác định hàng thừa kế, người thừa kế, di sản thừa kế

– Thay mặt các bên tiến hành đàm phán, hòa giải, thương lượng chia thừa kế;

– Đánh giá và phân tích chứng cứ và vụ việc tranh chấp một cách toàn diện. Đưa ra những phương án cụ thể có lợi nhất trong quá trình đàm phán, hòa giải với đối phương. Giúp khách hoặc thay mặt khách hàng soạn thảo văn bản, giấy tờ liên quan đến việc giải quyết tranh chấp gửi đến cơ quan có thẩm quyền liên quan đến vụ việc.


– Hướng dẫn và tư vấn cho khách hàng trình tự thủ tục khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách chủ thể và soạn đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền;

– Kiến nghị hoặc hướng dẫn khách hàng khiếu nại các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan khi ban hành những quyết định không đúng thủ tục, trình tự… Ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng; Tham gia gia tố tụng với tư cách là luật sư – Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại các cấp tòa xét xử; Tham gia tố tụng với tư cách là đại diện ủy quyền- nhân danh khách hàng thực hiện tất cả các phương án và cách thức theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất tại các cấp tòa xét xử.

Từ thực tiễn công tác cho thấy, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp về thừa kế Kiểm sát viên cần lưu ý một số dạng vi phạm như sau:

1. Điều tra xác minh chưa đầy đủ

– Giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng diện tích đất thực tế (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ nhiều hơn diện tích được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án không yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho ý kiến về diện tích đất tăng thêm để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Ví dụ: Vụ án “tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị A, bị đơn là bà Võ Thị B: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/8/1998 thể hiện thửa đất 327 có tổng diện tích 633m2. Tuy vậy, hồ sơ vụ án chưa có chứng cứ chứng minh thửa đất tranh chấp là tài sản chung của cụ Võ Trọng X và cụ Võ Thị C, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh tại cơ quan có thẩm quyền về thời điểm cấp đất để xác định thửa đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng cụ X hay là tài sản riêng của cụ Võ Thị C.

 Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện thửa tranh chấp có diện tích 808.6m2. Sơ đồ thửa đất ngày 28/9/2017 thể hiện thửa đất có diện tích 829,72m2. Tại Công văn số 94/CV ngày 20/9/2017, UBND xã N.L xác nhận diện tích đất thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (196,72m2) là đất vườn liền kề đất ở của gia đình bà C. Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì bà B ở trên đất tranh chấp từ năm 1987.

Tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế


Tranh chấp được hiểu là việc xảy ra những bất đồng, trái ngược, mâu thuẫn về lợi ích vật chất giữa các bên. Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp bằng việc hai bên mâu thuẫn gặp gỡ, trao đổi để tìm phương án giải quyết về mâu thuẫn liên quan đến thừa kế. Phương thức giải quyết tranh chấp này mang tính mềm dẻo, linh hoạt, tiết kiệm chi phí cho các bên tuy nhiên kết quả giải quyết tranh chấp mang không tính chất bắt buộc cho các bên.

 Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ tứ cận thửa đất từ khi vợ chồng cụ X tạo lập và sinh sống đến nay có thay đổi hay không, nguyên nhân diện tích đất thực tế lớn hơn diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do sai số đo đạc hay do khai hoang, nếu khai hoang thì ai khai hoang để có cơ sở giải quyết tranh chấp là thiếu sót.

– Chưa làm rõ nghĩa vụ của người chết để lại: Vụ án “tranh chấp di sản thừa kế” giữa ông Nguyễn Trọng Đ và ông Nguyễn Chính T: Các đương sự yêu cầu chia di sản thừa kế của ông D, quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận năm 1995 ông D đã viết giấy bán nhà đất cho ông C với số tiền là 15.000.000 đồng.

 Ông Đ, ông H, ông C đều trình bày do việc mua bán không thành nên ông D đã trả tiền lại cho ông C, bà H là người đại diện theo ủy quyền của ông C trình bày ông D chỉ mới trả cho ông C số tiền mua nhà đất là 5.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm không điều tra xem xét giải quyết nghĩa vụ của ông D để lại là thiếu sót, làm thiệt hại đến quyền lợi của đương sự.

2. Không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng

– Khi chia di sản thừa kế cần xác định đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế theo thứ tự, nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn thì xác định đến hàng thừa kế thứ hai, hàng thừa kế thứ ba… Cần lưu ý trường hợp một hoặc một số con của người để lại di sản chết thì cần xác định họ chết trước hay chết sau người để lại di sản để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

– Khi chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, cần xác định xem quyền sử dụng đó có thế chấp tại cơ quan, tổ chức, cá nhân nào không để đưa họ tham gia tố cute; dụ: Vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế” giữa bà Nguyễn Thị H và bà Hồ Thị L: Tại biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị L ngày 02/11/2012: bà L khai “hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được Ngân hàng nông nghiệp giữ.” Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án từ năm 2012 đến khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu bà L xuất trình bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không lấy lời khai của bà L để làm rõ có hay không việc bà L đang dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp vay tiền tại ngân hàng để đưa Ngân hàng nông nghiệp tham gia tố tụng mà vẫn tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

Tư vấn thành lập doanh nghiệp



3. Vi phạm trong việc giải quyết  tài sản trên đất (là di sản thừa kế)

– Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế giữa bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị V: Bản án nhận định bà V và anh H là người xây dựng các công trình trên đất, không hỏi ý kiến anh H về giải quyết tài sản trên đất nhưng chỉ buộc bà Nị trả số tiền giá trị bờ rào cho một mình bà V làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh H

– Vụ án “kiện đòi lại di sản thừa kế” giữa nguyên đơn ông Lương Bá H và bị đơn ông Phạm Văn P và bà Nguyễn Thị Đ: Buộc ông H, ông T, ông L, ông M phải trả giá trị tài sản trên đất cho ông P, bà Đ là 28.058.000 đồng nhưng không chia kỷ phần cho từng người.

4. Vi phạm trong việc giải quyết trích công sức cho người thừa kế có công tôn tạọ, quản lý di sản

– Đương sự cho rằng đất của mình, không phải di sản nên không yêu cầu trích công sức tôn tạo, bảo quản di sản, bản án sơ thẩm không áp dụng nội dung án lệ để giải quyết trích công sức cho người có công bảo quản di sản.

– Có nhiều người có công sức tôn tạo bảo quản di sản thừa kế nhưng chỉ trích cho một người hoặc một số người. Vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế” giữa bà Nguyễn Thị H và bà Hồ Thị L: Ông Trương Văn D kết hôn với bà Hồ Thị L năm 1986 và sống với ông T bà N trên mảnh đất đang tranh chấp.

 Năm 2003, ông Trương Văn D chết. Như vậy vợ chồng ông đã sống chung trên mảnh đất này 17 năm. Từ năm 2003 đến này bà L sống chung với bà N trên mảnh đất này. Vợ chồng bà L sống với ông T bà N trên diện tích đất tranh chấp đã có công sức bảo vệ, tôn tạo đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất này. Tòa án cấp sơ thẩm tính trích công sức cho bà L mà không tính trích công sức cho ông D là thiếu sót, làm thiệt hại đến quyền lợi của bà L và các con.

– Có nhiều người có công sức tôn tạo bảo quản di sản thừa kế, một số người đồng ý giao phần công sức của họ cho một người quản lý, sử dụng, một số người chưa có ý kiến nhưng lại giao toàn bộ công sức của tất cả cho một người quản lý, sử dụng.